Nhất bên trọng, nhất bên khinh

Một anh thợ mộc có chút chữ nghĩa đến làm việc cho nhà một vị quan đã về hưu. Thấy anh ta nhanh nhẹn, miệng lưỡi hoạt bát, ông quan bèn hỏi:
– Trước đây anh có từng học hành chữ nghĩa gì không?
Anh thợ đáp:
– Bẩm, có ạ!
Ông quan chỉ con ngựa bạch quý đang đứng ăn ở góc sân rồi bảo:
– Vậy anh thử làm một bài thơ vịnh con ngựa này xem. Nếu hay, ta sẽ thưởng.
Anh thợ mộc liền ứng khẩu đọc:
Bạch mã mao như tuyết (Ngựa trắng lông như tuyết)
Tứ túc cương như thiết (Bốn chân cứng như sắt)
Tướng công kỵ bạch mã (Ngài cưỡi ngựa trắng)
Bạch mã tẩu như phi (Ngựa trắng chạy như bay)
Ông quan nghe xong gật gù khen hay, rồi thưởng cho anh một thúng thóc và một quan tiền.
Trên đường về, anh thợ gánh một bên là thúng thóc, một bên là đồ nghề. Thấy gánh lệch, bên nặng bên nhẹ, anh liền buột miệng nói chữ: “Nhất bên trọng, nhất bên khinh”. Ông quan nghe vậy lại cho thêm một thúng thóc nữa để anh gánh cho cân.
Về đến nhà, anh kể lại chuyện ấy cho mọi người nghe. Một anh hàng xóm vốn dốt đặc cán mai nhưng thấy anh thợ được thưởng tiền, thưởng thóc thì nổi lòng tham. Anh ta năn nỉ anh thợ dạy cho bài thơ cùng câu nói chữ kia. Học thuộc xong, anh cũng sắm quang gánh, mang ít dụng cụ rồi đến dinh quan xin việc. Ông quan hỏi như lần trước, anh ta hí hửng nhận mình là người có học. Quan nhìn ra sân thấy bà cụ đang quét dọn, bèn bảo anh làm thơ vịnh bà cụ. Anh ta lúng túng vì chỉ thuộc mỗi bài vịnh con ngựa, nhưng đã lỡ khoe chữ nên đành đọc bừa:
Bà cụ mao như tuyết…
Ông quan gật đầu:
– Ừ, cũng được đấy!
Được khen, anh ta vững dạ đọc tiếp:
Tứ túc cương như thiết.
Ông quan cau mày:
– Ý hơi gượng, nhưng tạm chấp nhận. Đọc tiếp đi!
Mừng quá, anh ta đọc luôn một mạch:
Tướng công kỵ bà cụ,
Bà cụ tẩu như phi.
Nghe xong, ông quan nổi giận, sai người nọc anh ta ra đánh ba mươi roi vào mông. Vừa đứng dậy, anh ta vừa xoa vừa nói: “Nhất bên trọng, nhất bên khinh”. Ông quan nghe vậy liền bảo đánh thêm ba mươi roi vào lưng cho cân.