Tàu phá băng hoạt động như thế nào?

Mùa đông rét buốt kéo dài thường làm các eo biển và mặt biển phương Bắc bị băng đóng kín, khiến đường hàng hải bị ách tắc. Để tàu thuyền có thể ra vào cảng, người ta phải dùng đến những con tàu đặc biệt rất lớn và khỏe: tàu phá băng.
Để đảm nhận nhiệm vụ nặng nhọc ấy, tàu phá băng có cấu tạo riêng. Đầu tàu được làm vát, tạo góc khoảng 20 - 35° so với mặt nước, giúp nó dễ “bò” lên mặt băng. Hai bên đầu tàu, đuôi tàu và bụng tàu còn có các khoang nước lớn, được dùng như thiết bị hỗ trợ phá băng.
Khi gặp băng, tàu thường lùi lại một đoạn rồi mở hết công suất lao vào. Nhờ công suất động cơ lớn và tốc độ cao, cú va chạm tạo ra lực xung kích mạnh làm băng vỡ ra. Động tác này được lặp lại nhiều lần cho đến khi tàu mở được đường.
Nếu gặp lớp băng rất dày, phá ngay không được, các máy bơm công suất lớn trên tàu sẽ bơm nước vào khoang ở đuôi tàu. Trọng tâm tàu chuyển về phía sau, đầu tàu tự nhiên ngóc lên. Sau đó tàu tiến lên để đầu tàu gác lên mặt băng dày, rồi xả nước ở khoang đuôi và bơm nước vào khoang đầu tàu. Khi đó đầu tàu vốn đã nặng lại thêm hàng trăm tấn nước, tạo áp lực lớn khiến lớp băng bị phá vỡ. Cứ như vậy, tàu phá băng tiến dần lên và mở đường qua băng.
Một số tàu phá băng châu Âu khi hoạt động ở Bắc Băng Dương từng gặp những tảng băng rất dày và rắn, khiến tàu bị kẹt. Khi đó, tàu phải lắc qua lắc lại để thoát ra. Muốn làm được điều này, hai bên thân tàu ở phần giữa được thiết kế các khoang nước. Bơm nước nhanh vào khoang một bên sẽ làm tàu nghiêng sang bên đó; hút nước ra rồi bơm sang khoang bên kia, tàu lại nghiêng ngược lại. Nhờ lắc liên tục như vậy, kết hợp với công suất máy lớn, tàu có thể thoát khỏi băng.
Tàu phá băng có kết cấu rất chắc chắn. Vỏ tàu bằng thép và thường dày hơn nhiều so với tàu thông thường. Thân tàu to rộng, phần trên thon lại để tạo đường đi đủ rộng cho tàu thuyền phía sau. Để dễ tiến, lùi, chuyển hướng và điều khiển, thân tàu thường được thiết kế ngắn hơn so với tỉ lệ tàu thường. Nhờ mớn nước sâu, tàu có thể phá được những lớp băng khá dày.