Vàng, bạc có bị gỉ không?

Từ thời xa xưa, loài người đã dùng ký hiệu để biểu thị vàng và bạc, bởi vàng luôn phát ra ánh sáng vàng lấp lánh như ánh Mặt Trời, còn bạc lại lấp lánh ánh sáng như Mặt Trăng.
Thông thường, vàng và bạc không bị gỉ vì chúng là những kim loại có hoạt tính hóa học rất yếu, hầu như không tác dụng với các nguyên tố khác để tạo hợp chất hóa học. Ngay cả khi gia nhiệt đến hơn 1000°C, vàng và bạc cũng không bị oxy hóa. Người ta thường nói “vàng thật không sợ lửa”, ý chỉ dù ở nhiệt độ cao, vàng cũng không dễ xảy ra phản ứng hóa học.
Chính vì vậy, khoáng chứa vàng trong tự nhiên thường ở dạng vàng khá tinh khiết, còn bạc trong quặng bạc cũng thường ở dạng bạc kim loại. Người ta từng tìm được vàng tự nhiên nặng đến 112 kg và bạc tự nhiên nặng đến 13,5 tấn. Trong khi đó, phần lớn kim loại khác trong tự nhiên tồn tại dưới dạng hợp chất. Ví dụ, quặng sắt thường là sắt oxit, kẽm thường ở dạng kẽm sunfua, nhôm thường ở dạng nhôm oxit, thiếc thường ở dạng thiếc đioxit, chì ở dạng chì sunfua…
Rõ ràng, vàng và bạc không phải tuyệt đối không bị gỉ. Vàng có thể hòa tan trong cường thủy. Cường thủy phản ứng với vàng tạo thành hợp chất tan trong nước.
So với vàng, bạc có hoạt tính mạnh hơn. Không chỉ cường thủy có thể phản ứng với bạc, ngay cả lưu huỳnh cũng có thể tác dụng với bạc để tạo thành hợp chất màu đen. Khi xát bột lưu huỳnh lên bề mặt bạc sáng loáng, bạc sẽ chuyển thành màu đen. Vì vậy, các đồ dùng bằng bạc cổ thường có màu đen, trong khi đồ dùng bằng vàng cổ vẫn giữ màu vàng sáng lấp lánh. Nếu dùng dung dịch amoniac để lau đồ bạc bị đen, màu đen sẽ mất đi và bề mặt bạc sáng trở lại như mới. Đó là vì bạc sunfua đã phản ứng với dung dịch amoniac, biến thành hợp chất bạc amoniac dễ tan trong nước. Tương tự, đồ đồng bị đen cũng có thể được làm sáng trở lại bằng dung dịch amoniac. Vì thế, có người gọi dung dịch amoniac là thuốc “đánh sạch đồng”.