Ông lão ăn mày

Người ta gọi ông là ông lão ăn mày vì ông nghèo và không có nhà cửa. Thực ra, ông chưa từng chìa tay xin ai một đồng xu.
Có lẽ ông chưa ngoài bảy mươi, nhưng mưa gió, công việc nhọc nhằn, đói rét đã khiến ông già hơn tuổi. Lưng ông hơi còng, tóc mới bạc quá nửa, đôi má hóp lại, chân tay khô gầy và đen sạm. Chỉ riêng đôi mắt vẫn còn tinh sáng.
Một hôm đi học về, từ xa tôi đã thấy ông ngồi co ro trước cửa nhà tôi. Nghe tiếng gót giày tôi bước trên thềm gạch, ông ngẩng lên chào, giọng nhỏ và run:
– Bẩm ông… Chỗ này có nắng, cháu ngồi nhờ ông một lát cho ấm.
– Được, cụ cứ ngồi.
– Cháu sẽ quét cẩn thận, không dám để rác bẩn đâu.
– Thế thì hay lắm.
Rồi ông lại cúi xuống chiếc rổ tre đang đan dở.
Tôi vào nhà ăn cơm. Ông đi lúc nào, tôi không để ý. Có lẽ ông đi khi mặt trời lên cao, ánh nắng đã xế khỏi cửa nhà tôi. Chỗ ông ngồi đan, không ai tìm thấy một nút lạt, một tơ tre hay một sợi mây nhỏ.
Hôm ấy là chủ nhật, trời hoe nắng từ sáng sớm. Dù vậy, ngồi trong nhà tôi vẫn phải mặc áo len vì lạnh. Khi ra tựa cửa, tôi thấy ông lão lại ngồi đan ở chỗ cũ. Tôi gợi chuyện:
– Cụ dậy sớm nhỉ?
Ông ngẩng lên:
– Bẩm ông, cháu lại nhờ ông thêm một buổi nữa…
– Vâng, tôi có thiệt gì đâu.
– Ông xem, hôm qua cháu có để bẩn tí nào đâu. Cháu nghèo đói thật, nhưng không muốn để ai chê trách mình.
– Cụ nghĩ thế là phải lắm.
Ông cụ vừa rút chặt sợi mây vừa thủng thẳng kể:
– Cháu xa làng từ khi còn bé. Cháu từng đi ở, kéo xe, làm bếp, bán hàng rong, nhưng chưa bao giờ được mát mặt. Giờ có tuổi, không làm nổi việc nặng nữa, cháu làm việc nhẹ thôi.
– Đan thế này, mỗi ngày cụ kiếm được bao nhiêu?
– Dăm bảy xu, có khi chỉ một hai xu.
– Thế đủ ăn sao được?
– Cháu già rồi, ăn hết mấy. Vả lại, sức chỉ có thế thì biết làm sao.
Tôi còn đang ngẫm lời ông thì từ xa vọng lại tiếng rên rỉ não nùng. Tiếng ấy mỗi lúc một gần. Đó là tiếng kêu xin thê thảm của một người mù, già yếu, gầy đen. Anh ta lê qua trước mặt chúng tôi, tay trái chống xuống đất, tay phải cầm mảnh rá mất cạp. Ai thấy anh ta mà không động lòng thương, tôi thật không biết.
Thấy tôi cho anh ta tiền, ông lão cũng sờ vào vành quần, lấy ra một hào rồi ném vào rá người ăn mày. Ông ngậm ngùi bảo tôi:
– Sao thiên hạ lắm người khổ thế, ông nhỉ?
Tôi không biết trả lời ông ra sao. Tôi gọi thằng cháu đem mấy chiếc rổ rá cũ ra để ông cạp lại giúp. Ông làm cẩn thận và đẹp lắm. Những nút mây nhỏ nằm sát nhau, đầu nút lẩn vào bên trong.
Tôi đưa ông một hào. Ông bảo:
– Cháu không có xu giả lại.
– Tôi biếu cụ cả đấy.
– Ông cho thì cháu xin vâng, chứ nếu ông trả tiền công thì đắt quá, cháu không dám nhận.
Hai hôm sau, trời đang ấm bỗng trở rét. Lá vàng lác đác rụng. Tầng mây nặng trĩu, xám ngắt, cảnh vật âm u. Tôi kéo cổ áo lên khỏi gáy mà vẫn run. Hai tay đút trong túi áo vẫn buốt. Một người đi bên cạnh tôi lập cập, hai hàm răng va vào nhau.
Trước cửa trường, học trò tụ lại khác mọi ngày. Tôi hỏi:
– Có chuyện gì thế?
– Thưa thầy, trong hiên trường có người chết. Có lẽ là bệnh dịch. Mời thầy xuống xem.
Tôi hồi hộp nghĩ: “Hay là ông lão…”
Đến nơi, nhìn vào hiên trước cửa lớp tư, tôi thấy một chiếc chiếu cuốn tròn, gồ lên. Một thầy giáo cùng trường nói:
– Ông cụ này vẫn ngủ ở đây. Ông cụ sạch sẽ và cẩn thận lắm, sáng nào dậy cũng quét dọn tinh tươm.
– Có phải ông cụ vẫn đan rổ rá không?
– Phải đấy. Ông cụ khái lắm! Dù già yếu, nghèo đói, ông vẫn tự kiếm ăn, không thèm đi xin.
– Ông còn làm phúc cho người nghèo hơn mình nữa.
Một tiếng còi ô tô vang lên. Chúng tôi giãn sang hai bên đường. Chiếc xe đen bóng loáng, lịch sự từ từ tiến đến. Ông y sĩ bước xuống, vào khám tử thi.
Khám xong, ông bảo chúng tôi:
– Người ăn mày này chết vì rét thôi. Các ông cho học trò nghỉ buổi sáng, chiều có thể học lại.
Ba tiếng trống vang lên. Học trò lớp trên vào lớp. Ngoài đường, vòm trời ảm đạm, cây cối xào xạc, ủ rũ. Một chiếc lá vàng khô rời cành, lặng lẽ rơi xuống đất. Hình ảnh của một đời người đã qua.
Chiều hôm sau, khi tan học, tôi gặp một cậu bé khoảng sáu, bảy tuổi, gầy gò, bẩn thỉu, mặc chiếc áo cánh nâu rách dài chấm đầu gối. Cậu vừa đi vừa khóc, tay quệt nước mắt chảy dài trên má. Rồi cậu vào hiên trường, ngồi bưng mặt khóc đúng chỗ ông lão vừa mất đêm kia.
Tôi ngạc nhiên, đoán chắc thằng bé là con cháu của người đã khuất. Tôi hỏi:
– Sao cháu ngồi khóc ở đây?
– Bố mẹ cháu chết cả. Cháu đi ăn mày, vẫn được ông cụ ở đây cho ăn, cho ngủ. Cháu bị lạc mấy hôm, bây giờ về thì không thấy ông đâu…
Cậu bé thổn thức mãi mới nói được mấy câu. Hai má đẫm nước mắt. Tôi muốn nói với nó rằng ông cụ đã chết rồi, nhưng sự thương cảm khiến tôi nghẹn lời.