Bữa điểm tâm bằng hồ dán

Tôi còn nhớ đó là một buổi sáng tháng Chạp se lạnh. Tôi thức dậy thật sớm, khi mặt trời mới vừa ửng lên, khoác áo ấm, mang giày vớ đầy đủ rồi leo qua hàng rào sang nhà Minh mập. Tôi đã hẹn theo ba nó đi chặt mai. Ba mẹ Minh sống bằng khu vườn nhỏ sau nhà, trồng đủ thứ: dưa leo, củ kiệu, hành ngò, hoa hồng, hoa cúc rồi đem ra chợ bán. Có khi lời, có khi lỗ. Riêng việc chặt mai là nghề “cha truyền con nối” từ thời ông cố của nó. Mỗi năm chỉ có một mùa, nhưng nhờ vậy mà đến chiều ba mươi Tết, nhà nó mới có thêm tiền lo cái Tết.
Năm ấy, ba Minh bảo sẽ cho nó đi theo để học nghề. Vì Tết nào ba tôi cũng mua giúp nhà Minh cành mai to nhất, đẹp nhất và đắt nhất, nên tôi phải hứa với Minh rằng chỉ đi theo cho biết, tuyệt đối không chặt cành nào, kẻo ba mẹ nó mất mối.
Khi tôi thò đầu qua cửa sổ, tôi thấy ngay Minh mập cùng đám em lít nhít đang ngồi quanh chiếc bàn gỗ thấp. Đứa nào cũng mặc áo trắng, quần soọc xanh, cũ kỹ nhưng sạch sẽ, thẳng thớm. Cả bọn chụm đầu bên một chiếc nồi gang lớn, đen bóng vì ám khói. Trong nồi là một thứ hồ dán trong veo. Tôi biết rõ đó là hồ dán. Hồi ấy chưa có những lọ keo dán công nghiệp xinh xắn như bây giờ. Mỗi khi có giờ thủ công ở trường, ba tôi thường lấy bột mì trong kho, cho vào xoong nước, bắc lên bếp rồi khuấy đều tay cho đến khi thứ nước trắng đục ấy thành một loại bột sền sệt, dẻo quánh và trong veo.
– Đây là hồ dán – ba tôi thường tuyên bố như vậy.
Thế mà lúc này, anh em nhà Minh mập mỗi đứa cầm một chiếc muỗng, hăm hở múc thứ hồ ấy chấm nước mắm rồi đưa vào miệng ăn ngon lành. Thấy tôi, Minh mập vui ra mặt:
– Ăn sáng không mày?
Tôi nhìn mấy đứa em nó, mặt mũi lem nhem thứ bột trong suốt, rồi buột miệng:
– Hồ dán làm sao ăn được, ghê thấy mồ!
Minh mập lừ mắt:
– Không ăn thì thôi, đồ làm phách!
May là nó không giận đến mức đuổi tôi về. Nhưng suốt buổi đi chặt mai hôm đó, Minh trở nên lầm lì, chẳng buồn nói với tôi câu nào. Tôi cũng không còn tâm trí để ý cành mai nào nhiều nụ, cành nào dáng đẹp, vì cứ nghĩ mãi về nồi hồ dán. Thứ bột mì ấy, tôi chỉ từng thấy bà ngoại trộn với rau băm cho heo ăn.
***
Không hiểu bằng cách nào, ba mẹ tôi biết chuyện tôi đã nói một câu xanh rờn ở nhà Minh mập. Sáng hôm sau thức dậy, tôi thấy trên bàn ăn có một nồi hồ dán còn bốc khói. Ba xoa hai tay, tỉnh bơ nói:
– Lạnh quá, lạnh quá! Ăn sáng thôi!
Đó là lần đầu tiên trong đời tôi ăn “hồ dán”, thứ bột mì pha nước rồi khuấy chín một cách giản dị. Ba quấn bột quanh chiếc đũa, chấm nước mắm ớt, vừa ăn vừa hít hà. Mẹ múc vào chén, chan nước mắm rồi cười tủm tỉm. Còn tôi, sau vài phút ngỡ ngàng, cũng tò mò nếm thử. Tôi nhớ mãi cái vị nhạt thếch của nó.
Buổi sáng hôm ấy, ba nói với tôi rằng không nên phân biệt hay coi thường người khác chỉ vì cách sống của họ xa lạ với mình. Những món ngon tôi vẫn ăn và món ăn nghèo nàn, đơn sơ của gia đình Minh mập đều được làm nên từ mồ hôi con người. Ba bảo từ thứ bột mì tầm thường ấy, người ta có thể làm ra biết bao món ăn. Trên đời này, chẳng có điều gì thuộc về đời sống con người là đáng bị khinh miệt. Nếu ta nhìn người khác bằng đôi mắt và trái tim rộng mở, ta sẽ không dễ nói ra những lời làm họ tổn thương.
Từ buổi sáng ấy, tôi lớn lên mà không còn thấy xa lạ với những lối sống khác mình. Tôi đi từ miền sông nước đến cao nguyên, bước vào nhiều “thế giới mới” mà không chùn chân. Tôi có thể tình nguyện đến những vùng quê nghèo xa xôi, ngủ ngon trên đống rơm cạnh chuồng bò, nghe mùi phân bò xộc vào mũi. Từ bữa điểm tâm bằng hồ dán, tôi đã học cách đón nhận cả những món ăn lạ lùng nhất trên đời.
Minh mập bây giờ là một ông chủ miệt vườn trẻ, chuyên trồng hoa, vẫn đi chặt mai mỗi dịp Tết và thỉnh thoảng còn khuấy một nồi hồ dán để ăn. Nó viết thư cho tôi: “Mình đã lớn lên từ những bữa ăn hồ dán đó”. Tôi đưa thư cho ba xem và nói:
– Cả con cũng vậy.