Trên cả nỗi đau

Vào một ngày tháng Sáu yên ả năm 1941, tôi được gọi nhập ngũ. Sau đợt huấn luyện, tôi được đưa đến Alaska để phục vụ trong bộ binh. Khi chiến tranh bùng nổ, quân Nhật chiếm quần đảo Aleutian, mà nơi ấy lại nằm trên tuyến đường duy nhất dẫn đến Alaska.
Quân số của đơn vị chúng tôi quá ít, nên mỗi người phải đi tuần một mình từ năm đến mười dặm dọc vịnh Cook. Một ngày nọ, tuyết rơi rất dày, tôi thử đi theo một lối tắt. Tôi không ngờ bên dưới lớp tuyết mỏng lại là một dòng sông băng lạnh buốt. Tai họa bất ngờ ập xuống. Tôi lọt thỏm xuống lòng sông sâu khoảng 1,8 mét. Phần dưới chân trái bị gập hẳn với phần trên, xương đầu gối bị đẩy lên gần đến háng. Cái lạnh buốt và cơn đau vượt quá sức chịu đựng khiến tôi gần như choáng váng. Nhiều giờ trôi qua mà không còn hy vọng được cứu, tôi quyết định tự tử. Tôi cố nhích người về phía khẩu súng nằm cách đó vài bước, nhưng vừa chạm được tay vào cò súng thì tôi ngất lịm. Trong một lần hồi tỉnh ngắn ngủi, tôi thấy mình đang nằm trong lều cứu thương giữa rừng, chân được bó chặt bằng hai nhánh cây.
Sau nhiều tháng nằm viện quân y và trải qua nhiều ca phẫu thuật, dù chân trái bị tổn thương nặng nề, tôi vẫn được tuyên bố đủ sức tiếp tục phục vụ trong quân đội, chiến đấu với quân Nhật ở Aleutian. Lý do rất đơn giản: quân đội quá thiếu người.
Quần đảo Aleutian là nơi sương mù dày đến mức chỉ cách vài bước đã không thấy nhau. Ở đó, tôi thường phải chiến đấu giáp mặt với lính Nhật. Đến giờ tôi vẫn không hiểu vì sao mình sống sót sau những trận đánh khủng khiếp ấy. Tuy vậy, chiến tranh để lại những vết thương và vết sẹo, có vết hiện rõ ngoài thân thể, có vết mãi nằm sâu trong lòng.
Chân trái của tôi không bao giờ lành hẳn. Dù phẫu thuật nhiều lần, mười năm sau tôi vẫn bị những cơn đau nhức triền miên hành hạ. Hơn bốn mươi năm sau tai nạn đó, tôi nghe nói đến một nhà phẫu thuật tài ba người Mỹ gốc Nhật, bác sĩ Robert Watanabe, nổi tiếng trong việc chữa trị chấn thương thể thao, đặc biệt là chấn thương đầu gối. Khi ngành y học thể thao còn mới mẻ, ông đã được chọn làm bác sĩ cho đội tuyển điền kinh Mỹ năm 1984.
Tôi biết khá nhiều về cuộc đời ông. Cha mẹ ông đều là công dân Mỹ. Khi chiến tranh nổ ra, Robert khi ấy mới chín tuổi cùng gia đình bị đưa vào trại tạm giam suốt mấy năm. Cậu bé Robert đau khổ, thất vọng và phẫn uất trước sự bất công ấy. Lớn hơn một chút, cậu giải tỏa tuyệt vọng bằng cách chạy quanh khuôn viên trại đến khi gục xuống vì kiệt sức. Khi chiến tranh kết thúc, gia đình được tự do, Robert trở thành một nhà vô địch chạy bộ với một động lực rất khác thường. Trở về Los Angeles, ông được một bác sĩ khuyến khích chuyển nguồn năng lượng dữ dội ấy vào những việc hữu ích hơn. Robert nghe lời và bước vào ngành y.
Khi gặp tôi, Robert Watanabe đã là một bác sĩ nổi tiếng nhờ những công trình nghiên cứu và các ca phẫu thuật sáng tạo. Nhưng với những trải nghiệm chiến tranh của mình, tôi thấy thật mỉa mai khi để một người Mỹ gốc Nhật chữa trị cho tôi. Tôi dè dặt nói với ông điều đó. Ông hiểu và chỉ đáp:
– Tôi là bác sĩ, và trường hợp của anh là một thử thách đối với tôi. Tôi sẽ làm hết sức vì anh.
Trong hai năm sau đó, tôi trải qua nhiều đau đớn, kiên trì chịu đựng ba cuộc phẫu thuật lớn do bác sĩ Robert thực hiện. Nhờ tài năng của ông, chân tôi được kéo dài và thẳng lại. Kết quả ấy khiến ông phấn khởi chẳng kém gì tôi.
Trong một lần thăm bệnh, một bác sĩ phẫu thuật người Anh không thể tin rằng tôi có thể đi dọc phòng mà không hề khập khiễng, hai chân bằng nhau, dáng người thẳng và rõ ràng không còn đau đớn. Bác sĩ Watanabe ôm chầm lấy tôi như một huấn luyện viên ôm cầu thủ sau chiến thắng. Cả hai chúng tôi đều đồng ý rằng đó là một phép lạ. Nhưng sự hàn gắn kỳ diệu hơn vẫn còn ở phía trước.
Trong suốt quá trình chữa trị, Robert và tôi có dịp mở lòng tâm sự, chia sẻ với nhau những ký ức về chiến tranh: sự giam cầm của ông và những trận đánh khủng khiếp của tôi. Không biết từ lúc nào, quan hệ bác sĩ – bệnh nhân giữa chúng tôi đã trở thành một tình bạn sâu sắc, khi cả hai dần thấu hiểu nỗi đau chiến tranh của nhau.
Trong lần thăm bệnh cuối cùng, Robert làm một việc khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Ông chọn kỷ vật quý giá nhất của mình, chiếc huy chương vàng Olympic ông nhận được với tư cách bác sĩ của đoàn thể thao, trao cho tôi và nói bằng tất cả chân tình:
– Cả hai chúng ta đều là người chiến thắng, vì chúng ta đã cố hết sức để vượt qua nỗi đau thể xác và giúp nhau hàn gắn vết thương trong tâm hồn.