Hạt ngọc và ước mơ

Vào tuần cuối của năm học, thầy York, giáo viên môn Khoa học, triệu tập hai mươi học sinh lớp tôi để chào tạm biệt cuối năm.
Chúng tôi ngồi im lặng khi thầy bước vào lớp. Trông thầy vẫn như mọi khi, với chiếc nơ nhỏ và cặp kính gọng sừng. Sau vài lời dặn dò, thầy trao cho mỗi đứa chúng tôi một chiếc hộp nhỏ màu trắng. “Bên trong,” thầy nói, “các em sẽ thấy một cánh hoa bạc có đính hạt ngọc trai ở giữa. Hạt ngọc ấy tượng trưng cho tiềm lực của các em, thứ các em cần trên bước đường tương lai. Bởi cát khi nằm trong vỏ trai sẽ biến thành hạt ngọc có giá trị rất lớn. Cũng vậy, mỗi em đang nắm trong tay hạt giống ươm mầm cho những giá trị tiềm tàng.”
Tôi cắn chặt môi để ngăn những giọt nước mắt sắp trào ra. Lời thầy thật ý nghĩa, nhưng với tôi, tất cả dường như đã quá muộn kể từ khi tôi biết mình mang thai. Mọi chuyện đã kết thúc. Giấc mơ của tôi và của mẹ tôi đã tan thành mây khói vì tôi đã làm hỏng cuộc đời sinh viên của mình trong một giây phút yếu lòng.
Làm sao tôi có thể quên được sự hy sinh vô bờ của mẹ, với mong mỏi duy nhất là tôi lấy được tấm bằng đại học. Mỗi tuần, mẹ chắt chiu gửi cho chị Marianne và tôi chút tiền. Đại học, chỉ có đại học mới là con đường giúp chúng tôi thoát khỏi cuộc sống nghèo khổ của những người đào mỏ ở quê nhà – mẹ tôi thường nói như vậy. Ký ức tuổi thơ khốn khó vẫn in đậm trong tâm trí tôi. Khi tôi ba tuổi, cha tôi phải vào dưỡng trí viện vì bệnh lao phổi. Vài năm sau, cha xuất viện nhưng sống vật vờ, không làm được gì. Mọi lo toan trong gia đình đều đặt lên đồng lương ít ỏi của mẹ. Từ những nỗi thống khổ ấy, một giấc mơ đã nảy sinh trong lòng mẹ: chị Marianne và tôi nhất định phải vào đại học. Vậy mà giờ đây, thay vì niềm tự hào, tôi lại mang về cho gia đình sự nhục nhã.
Tôi và Dan cưới nhau. Dan tiếp tục học đại học, còn tôi phải nghỉ học. Trước khi Dan tốt nghiệp, tôi sinh đứa con thứ hai. Sau đó, Dan nhập ngũ, tôi theo chồng dọn từ căn cứ này sang căn cứ khác. Đứa con thứ ba lại ra đời. Bảy năm sau, Dan xuất ngũ và kiếm được việc làm, nhưng thu nhập không đủ nuôi cả nhà nên tôi phải đi làm thêm phụ chồng. Tôi làm đủ thứ nghề, tâm trí như quay cuồng với vô số nỗi lo. Thỉnh thoảng, tôi lại lấy hạt ngọc ra ngắm và nhớ đến lời thầy York. Có đêm tôi trằn trọc nghĩ đến việc trở lại giảng đường, nhưng rồi lại tự nhủ: “Mình đã ba mươi lăm tuổi rồi còn gì…”
Mẹ hẳn đoán được những dằn vặt mà tôi đang chịu đựng. Một hôm, bà gọi điện: “Con có nhớ số tiền mẹ dành dụm cho con không? Nay vẫn còn nguyên đấy.” Tôi thẫn thờ nhìn chăm chăm vào ống nghe. Mười bảy năm rồi mà mẹ vẫn còn nuôi giấc mơ ấy. Cuối cùng, sáu tháng sau, tôi ghi danh vào trường đại học gần nhà, học ngành Sư phạm. Những gian khổ sau đó nặng nề hơn tôi tưởng. Tôi vừa phải lo chuyện gia đình, vừa phải cố gắng hết sức trong một lớp học mà sinh viên chỉ bằng nửa tuổi mình, nhanh nhẹn và đầy sức bật.
Một ngày tháng năm, sau buổi học ở giai đoạn năm nhất, tôi về nhà và bật khóc, hoang mang không biết liệu lần này mình có theo hết chương trình đại học hay không. Con gái đầu lòng của tôi cũng sắp vào đại học vào đầu mùa thu. Ngân sách gia đình eo hẹp, chi phí học hành cho hai đứa nhỏ ngày càng tốn kém. Vài ngày sau, tôi tình cờ gặp vợ thầy York ở phòng mạch nha sĩ. Tôi kể với cô về hạt ngọc và nỗ lực trở lại giảng đường, cùng những khó khăn chồng chất.
“Tôi hiểu,” cô York nói, “thầy cũng bắt đầu vào đại học khi đã năm mươi tuổi.” Tôi lắng nghe, ngạc nhiên, nhất là khi cô kể về những khốn khó thầy York đã chịu đựng khi quyết tâm theo đuổi đại học. Câu chuyện về thầy York khiến tôi mạnh mẽ và cứng rắn hơn. Tôi tiếp tục học nốt ba năm đại học còn lại.
Sau khi tốt nghiệp, tôi dạy Anh ngữ tại một trường trung học ở địa phương. Chính những năm tháng khó khăn đã cho tôi kinh nghiệm sống quý giá và phương pháp học cụ thể. Tôi mang sự hiểu biết ấy vào lớp học. Cuối năm, thầy hiệu trưởng báo cho tôi một tin hết sức bất ngờ: tôi được đề cử vào danh sách giáo viên dạy giỏi nhất tranh giải cấp quốc gia. Trong bản tường trình, tôi kể lại câu chuyện hạt ngọc của thầy York đã ảnh hưởng đến tôi như thế nào. Vào một ngày tháng chín, tôi nhận được danh hiệu cao quý ấy.
Điều thú vị là sau đó, tôi và thầy York được báo chí mời phỏng vấn. Gặp lại thầy, tôi xúc động khi nghe thầy nói năm tới thầy sẽ nghỉ hưu. Thầy còn kể rằng ngày trước có lúc thầy từng nghĩ đến chuyện bỏ học vì “tôi không tin vào tương lai, không tin vào chính mình…”. Tôi hỏi thầy có phải khi trao hạt ngọc, thầy cũng không tin vào hai mươi sinh viên lớp tôi hay không. Thầy trả lời: “Không, thầy đã nhìn thấy ở hai mươi người các em những phẩm chất như những hạt ngọc quý.”