Thế nào là “Băng tuyết khô”?

Trong một trò ảo thuật, nhà hóa học phủ túi vải vào miệng một bình thép lớn rồi mở van. Từ miệng bình bốc ra luồng tuyết màu trắng. Một lúc sau, cả túi vải chứa đầy loại tuyết này. Nhà hóa học đem túi tuyết đổ lên mặt đất; chẳng mấy chốc, lớp tuyết trắng biến mất. Vậy tuyết ấy đi đâu?
Chất chứa trong bình không phải là tuyết mà là CO2 lỏng. Khi chứa CO2 vào bình nén và tăng áp lực, nó sẽ hóa lỏng. Lúc nhà hóa học mở nút, áp suất trong bình giảm nhanh khiến CO2 lỏng biến thành khí. Trong quá trình này, CO2 thu nhiều nhiệt lượng làm nhiệt độ giảm xuống, một phần khí CO2 lạnh đến mức hóa rắn, nhìn bề ngoài giống tuyết, cũng xốp và trắng. Băng và tuyết thật do nước tạo thành, vì vậy khi sờ vào chúng ta có cảm giác ẩm. CO2 rắn không phải là nước nên khi sờ sẽ có cảm giác khô; vì vậy, các nhà khoa học gọi nó là “băng khô”.
Nhiệt độ của băng khô là -78 độ C, vì vậy nó gây cảm giác rất lạnh. Chúng ta có thể tiếp xúc nhẹ nhàng với nó, nhưng cần chú ý tuyệt đối không sục tay vào băng khô vì điều đó có thể gây tổn thương do đông lạnh. Ở nhiệt độ cao hơn -78 độ C, băng khô trực tiếp biến thành khí CO2 mà không qua giai đoạn hóa lỏng. Người ta gọi đó là hiện tượng thăng hoa. Đây chính là lý do khi đổ băng khô lên mặt đất, nó hoàn toàn biến mất và không để lại dấu vết gì.
Ở nhiệt độ thường, băng khô không ngừng thăng hoa và làm nhiệt độ xung quanh giảm xuống. Vì vậy, có thể dùng băng khô làm tác nhân làm lạnh. Nếu đem băng khô trộn với propyxenton, có thể tạo ra một hỗn hợp lạnh hạ xuống tới -100 độ C. Các kho đông lạnh hoặc xe lạnh thường dùng băng khô để bổ trợ tác dụng làm lạnh. Người ta còn dùng băng khô làm chất dập lửa hoặc làm mưa nhân tạo. Tuy nhiên, trong việc làm mưa nhân tạo ngày nay, người ta thường dùng bạc iotua thay cho băng khô.