Tại sao Giáo hoàng La Mã có Thập tự quân?

Mùa xuân năm 1095, Giáo hoàng La Mã triệu tập một Hội nghị Giáo hội. Lúc ấy có sứ giả của Đông La Mã đến xin gặp, đưa tin khẩn cấp của Hoàng đế La Mã A-lê-xiut Đệ nhị, cầu mong Giáo hoàng ra quân cứu viện, vì thánh địa Giê-ra-xa-lem (Jerusalem) đã bị các giáo đồ I-xlam (Ixlam) chiếm mất. Giáo hoàng Uyêcbanh Đệ nhị vốn đã muốn phát triển thế lực sang phương Đông từ lâu, nên lập tức đồng ý chấp nhận đề nghị cử binh sang giúp Đông La Mã.
Đến tháng 11, Uyêc-banh triệu tập Đại hội động viên Thập tự quân đông chinh. Giáo hoàng kêu gọi các giáo đồ từ mọi nơi kéo đến: “Thượng đế yêu cầu chúng ta giải cứu anh em Cơ Đốc của chúng ta ở phương Đông, giành lại thánh địa Giê-ra-xalem; ở phương Đông có vô vàn vàng bạc”. Diễn văn của Uyêc-banh đã kích động tình cảm tôn giáo cuồng nhiệt của giáo dân.
Sau hội nghị, họ tranh nhau lấy dấu chữ thập bằng vải đỏ khâu vào trang phục của mình để biểu trưng là Thập tự quân. Giáo hoàng định ngày 15 tháng 8 năm 1096 là ngày xuất chinh, lấy Công-xtang-tinôp làm nơi tập kết. Từ đó bắt đầu một cuộc thập tự chinh về phương Đông kéo dài đến hai trăm năm. Vì đạo I-xlam lấy biểu tượng là trăng lưỡi liềm nên cuộc chiến tranh này còn gọi là “cuộc chiến giữa thập tự và lưỡi liềm”.
Trong Thập tự quân vừa có những giáo sĩ trung thành, vừa có cả bọn lưu manh. Có người chiến đấu vì Chúa, có kẻ cầu mong cướp bóc, vơ vét ở vùng đất bị chinh phục, và cũng có những người mong rằng qua cuộc Đông chinh, họ sẽ rửa sạch được tội lỗi.
Mùa xuân năm 1096, một cánh Thập tự quân do các nông dân Pháp, Đức hợp thành, khoảng một vạn người, vì bị kích động tôn giáo nên vội vã đến Tiểu Á đánh trận đầu tiên. Những con người đáng thương này vừa thiếu vũ khí, lại không có kiến thức quân sự, kết quả bị quân Thổ Nhĩ Kỳ đánh cho tan tác.
Lần thất bại này không làm nguôi đi bầu máu cuồng nhiệt chiến tranh. Mùa xuân năm sau, một cánh Thập tự quân khoảng 3 vạn người do các chúa phong kiến Pháp, Đức, Ý chỉ huy đã chia làm nhiều đường tiến vào Công-xtan-tinôp. Tháng 6 năm 1099, Thập tự quân bao vây Giê-ru-xa-lem.
Tháng 7, sau một hồi hỗn chiến, thành Giê-ru-xalem bị chiếm và bị tắm trong máu. Thập tự quân trả thù, tàn sát không thương tiếc. Thây người ngổn ngang, máu chảy thành sông. Hơn một vạn người vào tị nạn trong đền thờ Ô-ma bị giết hết, họ đều là người già, phụ nữ và trẻ em.
Thập tự quân lấy Giê-ru-xa-lem (Jerusalem) làm thủ đô, xây dựng nên Vương quốc Giê-ruxalem. Công tước Gô-đơ-froa đơ Bui-ông (Godefroyde BuoiUon), người Pháp, được đưa lên làm vua. Ngoài ra, người ta còn lập nên Công quốc An-tiôt, Bá quốc Ê-đet-xa và Bá quốc Tri-pô-li. Về danh nghĩa, ba nước này đều phụ thuộc vào Vương quốc Giê-ru-xa-lem. Nhưng cuộc chiến giữa chữ thập và lưỡi liềm vẫn chưa kết thúc.
Giáo dân Ixlam chiếm lại Giê-ru-xalem và các thị thành khác. Thập tự quân muốn chiếm lại những phần đất đã mất. Năm 1203, Thập tự quân đông chinh một lần nữa, nhưng lần này họ đánh cướp thủ đô Đông La Mã, Công-xtan-tinôp, giết hại chính những người anh em Cơ Đốc của họ. Từ đó, sự cuồng nhiệt Đông chinh của Thập tự quân mới chấm dứt. Thập tự quân Đông chinh tất cả 8 lượt. Giáo hoàng cũng muốn tổ chức lần thứ 9, nhưng không còn ai nghe theo nữa. Năm 1291, Ai Cập thu hồi nốt cứ điểm cuối cùng của Thập tự quân là thành Acco, đánh dấu sự thất bại hoàn toàn của Thập tự quân.