Thế nào gọi là năm "can, chi"?

Bạn đã từng xem bộ phim “Gió mưa Giáp Ngọ”, hoặc đọc các sách “Sự biến Mậu Tuất” và “Cách mạng Tân Hợi” chưa?
Giáp Ngọ, Mậu Tuất, Tân Hợi đều là tên gọi của năm. Cách gọi năm như vậy được gọi là ghi năm theo can, chi.
Vì sao gọi là ghi năm theo can, chi? Muốn hiểu điều này, trước hết cần nói đến phương pháp ghi năm hiện nay.
Ngày nay, chúng ta dùng cách ghi năm theo Công nguyên. Đây là phương pháp ghi năm phổ biến trên thế giới, lấy mốc từ năm được cho là Chúa Giêsu ra đời để tính. Ở Trung Quốc cổ đại từng có hai cách ghi năm. Một cách là ghi theo niên hiệu của vương triều phong kiến. Ví dụ niên hiệu của Đường Thái Tông Lý Thế Dân là Trinh Quan; ông lên ngôi Hoàng đế năm 627, nên năm ấy gọi là Trinh Quan nguyên niên. Huyền Trang đi Tây Trúc lấy kinh năm 629, tức năm Trinh Quan thứ 3. Lại như Hoàng đế Tư Tông Chu Do Kiểm, vị hoàng đế cuối cùng của triều Minh, có niên hiệu là Sùng Trinh; năm ông mất là năm Sùng Trinh thứ 16. Cách ghi năm này đòi hỏi phải rất quen thuộc với triều đại và niên hiệu của các vương triều, nên việc tính toán khá phiền phức. Hơn nữa, khi gặp thời kỳ nhiều chính quyền cùng tồn tại như Tam Quốc, Ngụy, Thục, Ngô mỗi nước đều có niên hiệu riêng, sẽ khó thống nhất nên dùng cách ghi năm nào.
Trung Quốc cổ đại còn có một cách ghi năm khác tương đối khoa học, gọi là ghi năm theo “can, chi”. Can, chi là tên gọi chung của Thiên Can và Địa Chi. Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý là 10 Thiên Can; Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi là 12 Địa Chi. Mười Thiên Can và mười hai Địa Chi lần lượt phối hợp với nhau thành các tổ như Giáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão..., tổng cộng 60 tổ, tuần hoàn sử dụng, gọi là “lục thập hoa giáp”. Cách ghi năm này cứ 60 năm lặp lại một vòng, khi phối hợp với niên hiệu các vương triều thì các mốc cách nhau 60 năm cũng dễ phân biệt và tính toán. Ví dụ phong trào Duy Tân năm 1898 gọi là Sự biến Mậu Tuất; cuộc cách mạng dân chủ do Tôn Trung Sơn lãnh đạo năm 1911 gọi là Cách mạng Tân Hợi; trận hải chiến giữa thủy sư Bắc Dương và quân xâm lược Nhật năm 1894 gọi là Hải chiến Giáp Ngọ.
Năm 1961 là năm Tân Sửu, năm 1971 là năm Tân Hợi, năm 1981 là năm Tân Dậu. Cứ sắp xếp như vậy, ta có thể nhận ra: nếu Thiên Can của hai năm giống nhau thì chúng cách nhau 10 năm; nếu Địa Chi giống nhau, như Giáp Tý và Bính Tý, thì cách nhau 12 năm. Vì bội số chung nhỏ nhất của 10 và 12 là 60, nên khi cả Thiên Can và Địa Chi của hai năm hoàn toàn giống nhau thì hai năm ấy nhất định cách nhau 60 năm. Cách ghi năm này tuy không tiện bằng Công nguyên, nhưng vì được dùng rất nhiều trong lịch sử Trung Quốc nên vẫn cần tìm hiểu.
Về cầm tinh quen gọi trong dân gian, thực chất cũng dựa vào Địa Chi để tính. Quan hệ tương ứng là: Tý - chuột, Hợi - lợn, Tuất - chó, Dậu - gà, Thân - khỉ, Mùi - dê, Ngọ - ngựa, Tỵ - rắn, Thìn - rồng, Mão - mèo, Dần - hổ, Sửu - trâu. Vì vậy, trong đời sống hằng ngày, thói quen gọi tuổi con giáp cũng là một dạng sử dụng cách ghi năm theo can chi.