Sinh sản bằng trứng và sinh sản bằng con như thế nào?

Những người từng nuôi cá đều biết nhiều loài cá sinh sản bằng cách đẻ trứng, như cá vàng. Điều này đối với chúng ta rất quen thuộc. Nhưng cũng có một số loài chỉ cần quẫy đuôi là những con cá nhỏ xíu đã được sinh ra. Hiện tượng ấy có vẻ khác thường, không chỉ có ở cá mà một số loài rắn cũng có đặc tính tương tự. Tuy nhiên, dù là cá hay rắn, phương thức sinh sản này vẫn khác về bản chất so với cách sinh sản của người và các động vật có vú như trâu, bò, dê.
Trong giới động vật có vú, sau khi con đực và con cái giao phối, quá trình thụ tinh diễn ra. Trứng đã thụ tinh nằm trong tử cung của con cái và phát triển hoàn chỉnh nhờ chất dinh dưỡng do cơ thể mẹ cung cấp. Cuối cùng, nó hình thành một cơ thể nhỏ và được sinh ra. Phương thức này gọi là đẻ con. Toàn bộ quá trình phát triển của bào thai phụ thuộc vào cơ thể mẹ; nếu thiếu nguồn dinh dưỡng từ mẹ, bào thai trong tử cung sẽ chết.
Mặt khác, chúng ta đều biết gà sinh sản bằng cách đẻ trứng. Một quả trứng đã thụ tinh, trong điều kiện được ấp thích hợp, sẽ nở thành gà con. Bên trong vỏ trứng chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình phát triển của phôi, như protein, mỡ, đường, vitamin, muối vô cơ và men. Ngay cả một con đà điểu nặng hơn 10 kg cũng bắt đầu sự sống từ một quả trứng đà điểu. Rùa, thạch sùng và phần lớn các loài rắn cũng sinh sản theo phương thức này. Kiểu sinh sản mà phôi phát triển tách khỏi cơ thể mẹ và hoàn toàn dựa vào chất dinh dưỡng có trong trứng đã thụ tinh được gọi là đẻ trứng.
Trong lịch sử phát triển sự sống hàng tỉ năm, một số loài đã thay đổi phương thức sinh sản để bảo vệ thế hệ sau. Chúng chưa đủ điều kiện để đẻ con thật sự, nhưng lại giữ trứng đã thụ tinh trong cơ thể thay vì đẻ ra ngoài ngay. Điểm khác với bào thai của động vật có vú là trứng thụ tinh tuy nằm trong cơ thể mẹ nhưng không nhận dinh dưỡng từ mẹ, mà hoàn toàn dựa vào chất dinh dưỡng có sẵn trong trứng. Dù vậy, suốt quá trình phát triển trong cơ thể mẹ, phôi được đặt trong một môi trường bảo vệ an toàn hơn, nhờ đó tỉ lệ sống của thế hệ sau được nâng cao. Vì vậy, chúng đã lựa chọn hình thức sinh sản này. Nhìn bên ngoài thì giống đẻ con, nhưng về bản chất vẫn gần với đẻ trứng.
Nếu quan sát kĩ, ta sẽ thấy các loài đẻ trứng thường đẻ rất nhiều trứng mỗi lần. Như vậy, dù một phần trứng bị mất đi cũng không ảnh hưởng quá lớn đến việc duy trì nòi giống. Còn các loài đẻ con thường sinh ít hơn, nhưng khả năng sống sót của con non lại cao hơn. Điều này có thể xem như một kiểu “ưu sinh ưu dưỡng”.