Tại sao cần phải tăng tốc độ chạy tàu đường sắt?

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, tốc độ vận chuyển đường sắt ngày càng có tầm quan trọng lớn. Cục Đường sắt Trung Quốc quyết định bắt đầu từ năm 1995 sẽ từng bước tăng tốc độ đoàn tàu chở khách trên các tuyến đường sắt chính nhộn nhịp nhất, khiến tốc độ đạt đến 140 - 160 km/giờ; các đoàn tàu chở hàng cũng tăng tốc độ tương ứng.
Hiện nay trên thế giới, tốc độ đường sắt thường được phân chia như sau: 100 - 120 km/giờ gọi là tốc độ bình thường; 120 - 160 km/giờ gọi là tốc độ trung bình; 160 - 200 km/giờ gọi là tốc độ cao tiêu chuẩn hoặc tốc độ nhanh; 200 - 400 km/giờ gọi là tốc độ cao; trên 400 km/giờ gọi là siêu tốc. Tuy nhiên, cùng với sự tiến bộ kỹ thuật, tiêu chuẩn “cao tốc” cũng dần được nâng cao. Chẳng hạn, năm 1995, Ủy ban Kinh tế châu Âu của Liên hợp quốc thông qua một hiệp nghị quy định: tốc độ đường sắt cao tốc mới xây dựng chuyên dùng cho đoàn tàu chở khách là 300 km/giờ, còn tốc độ đường sắt cao tốc mới xây dựng để chở cả hành khách lẫn hàng hóa là 250 km/giờ.
Về mặt trang bị kỹ thuật và ứng dụng của nó, nhất là về tốc độ vận hành của đoàn tàu, Trung Quốc còn có một khoảng cách rất lớn so với yêu cầu thực tế. So với “tốc độ quốc tế” thì càng lạc hậu hơn. Năm 1995, tại Trung Quốc, tốc độ trung bình của tàu khách là 58,3 km/giờ, tốc độ tàu lữ hành là 49 km/giờ, tốc độ tàu chở hàng là 30,2 km/giờ. Do đó, việc tăng tốc độ chạy tàu là một yêu cầu bức thiết cần thực hiện.
Phương pháp cơ bản để tăng tốc độ chạy tàu là tận dụng tối đa các thiết bị hiện có, tiến hành cải tạo kỹ thuật, trên cơ sở bảo đảm an toàn, tăng sức kéo, dùng toa xe kiểu mới, cải tiến công tác quản lý vận chuyển v.v... Cụ thể, đối với các thiết bị và cơ sở hạ tầng như tuyến đường, ghi đầu máy, toa xe, thông tin tín hiệu, trang thiết bị an toàn v.v..., cần tiến hành cải tạo và đổi mới với quy mô lớn; thiết kế một loạt đầu máy tăng tốc, toa xe chở khách và chở hàng; nhập ngoại một loạt thiết bị và kỹ thuật quản lý tiên tiến; cải tạo và xây dựng các đầu mối giao thông. Qua một thời gian thử vận hành, tốc độ đoàn tàu nhanh đã đạt 120 - 140 km/giờ, thời gian chạy tàu giảm bớt 1/4 so với trước. Ví dụ, đoàn tàu K81/82 từ Bắc Kinh đi Đại Liên có toàn bộ hành trình 12 giờ, rút ngắn 4 giờ 11 phút so với trước; đoàn tàu K65/66 từ Bắc Kinh đi Nam Kinh có toàn bộ hành trình 13 giờ 11 phút, rút ngắn 5 giờ; đoàn tàu 105 từ Bắc Kinh đi Thâm Quyến có toàn bộ hành trình 35 giờ, rút ngắn 12 giờ 49 phút. Ngoài ra, từ năm 1995, đoàn tàu nhanh từ Quảng Châu đi Thâm Quyến bắt đầu vận hành, tốc độ cao nhất 167 km/giờ, đạt tiêu chuẩn cao tốc quốc tế.