Làm thế nào để xác định được niên đại của đồ gốm đã được khai quật?

Ở những nơi khai quật được đồ gốm, thường có một ít mảnh gỗ bị than hóa hoặc một ít tro than gỗ. Ngoài ra, trong các ngôi mộ xây bằng vỏ sò thường có vỏ sò, và khi khai quật đồ gốm, người ta cũng có thể tìm thấy một số xương động vật. Các nhà khảo cổ có kinh nghiệm không chỉ đo và phát hiện lượng cacbon trong tro, các mảnh gỗ có trong phần mộ, mà còn đo hàm lượng cacbon ở dạng hợp chất canxi cacbon trong xương động vật và vỏ sò.
Trong hàm lượng cacbon có các nguyên tử cacbon với nguyên tử lượng khác nhau, tức các đồng vị cacbon 12, 13, 14. Nguyên tử cacbon có khối lượng nguyên tử bằng 14 được gọi là đồng vị phóng xạ C14. Cacbon phóng xạ theo thời gian sẽ dần dần biến thành nguyên tử nitơ. Thời gian để lượng nguyên tử cacbon C14 còn một nửa lượng ban đầu là 5730+40 năm, còn gọi là chu kỳ bán rã hay chu kỳ tán hủy. Do vậy, chỉ cần đo tính phóng xạ của C14 có trong gỗ, vỏ sò khai quật được, người ta có thể biết niên đại cụ thể của chúng.
Ví dụ ở Nhật Bản, đồ gốm đào được ở huyện Catagawa có niên đại sớm nhất 9450+40 năm về trước. Trước đây, người ta cho rằng di chỉ ở huyện Shiba có niên đại 5100+40 năm, nhưng tính theo phương pháp đo cacbon phóng xạ, niên đại của di chỉ này là khoảng 1950 năm.