Động vật được phân loại như thế nào?

Nếu nuôi một, hai con tôm nhỏ trong bình thủy tinh, sau giờ học bạn có thể ngồi yên lặng quan sát chúng bơi tiến về phía trước, bật lùi về phía sau và dùng càng đưa thức ăn vào miệng. Chỉ một việc nhỏ như vậy cũng giúp ta biết thêm nhiều điều về động vật học. Cơ thể tôm được chia thành nhiều đốt, bên ngoài có lớp vỏ cứng, có nhiều đôi chân linh hoạt, bên trong có mang để thở, rất thích hợp với đời sống dưới nước. Bạn có thể đã biết nhóm động vật này có một họ hàng khá lớn, gọi là “động vật giáp xác”. Không chỉ tôm, nhiều loài cua và cả ấu trùng làm thức ăn cho cá vàng cũng thuộc nhóm này. Vì chúng có những đặc điểm giống tôm, các nhà động vật học xếp chúng vào nhóm động vật giáp xác. Những loài như bướm, rết, bò cạp, nhện... tuy không sống dưới nước và không có vỏ cứng như tôm, nhưng cũng có chân phân đốt và cơ thể chia đốt. Vì vậy, các nhà động vật học gộp chúng cùng động vật giáp xác vào nhóm lớn hơn là động vật chân đốt.
Chủng loại động vật trong tự nhiên vô cùng phong phú. Theo thống kê, sinh vật hiện nay ước có khoảng 1.500.000 loài, trong đó động vật chiếm hơn 1.000.000 loài. Muốn nhận biết, nghiên cứu và sử dụng động vật, con người cần phân loại chúng.
Dù các loài động vật có hình thái rất khác nhau, những loài gần nhau thường vẫn có nhiều điểm tương đồng. Các nhà động vật học dựa vào sự giống và khác nhau của chúng để phân chia từ cấp nhỏ đến cấp lớn. Loài, hay còn gọi là “giống”, là đơn vị nhỏ nhất và cơ bản nhất trong phân loại động vật. Những loài gần giống nhau hợp thành chi; các chi gần nhau hợp thành họ; họ hợp thành bộ; bộ hợp thành lớp; lớp hợp thành ngành; các ngành hợp lại thành giới. Giới là đơn vị lớn nhất trong phân loại, chẳng hạn giới động vật và giới thực vật. Hiện nay, giới động vật được chia thành khoảng 20 nhóm lớn, trong đó có các nhóm chủ yếu như động vật nguyên sinh, ví dụ trùng đế giày, amíp; động vật hải miên; động vật ruột khoang như sứa, san hô; giun dẹt như sán, trùng hút máu; giun tròn như giun đũa và các loài kí sinh khác; giun đốt như giun đất, tằm cát, đỉa; động vật thân mềm như ốc, mực; động vật chân đốt như tôm, cua, côn trùng; động vật da gai như hải sâm, hải hoàng; và động vật có xương sống như cá, ếch, rùa, rắn, chim, thỏ...
| 1 Lớp bò sát | 15 Lớp chân đầu | 30 Lớp sán đốt |
|---|---|---|
| 2 Lớp chim | 16 NGÀNH NHUYẾN THỂ | 31 Trùng hút máu |
| 3 Lớp có vú | 17 Lớp 2 mảnh vỏ | 32 Trg xoáy trôn ốc |
| 4 L. Hải đởm | 18 Lớp đỉa | 33 NGÀNH GIUN DẸT, SÁN |
| 5 L. Hải sâm | 19 Lớp chân bụng | 34 NGÀNH RUỘT KHOANG |
| 6 L. Sao biển | 20 Lớp song kinh? | 35 Lớp san hô |
| 7 NGÀNH ĐV CÓ DÂY SỐNG | 22 Lớp lông bụng | 36 Lớp thuỷ tức |
| 8 Lớp lưỡng cư | 23 NGÀNH GIUN TRÒN | 37 Lớp sứa |
| 9 Lớp cỏ | 24 Lớp nhiều chân | 38 NGÀNH HẢI MIÊN |
| 10 Loài đuôi rắn | 25 Lớp giáp xác | 39 L. Hải miên xoắn |
| 11 NGÀNH ĐV DA GAI | 26 Lớp đốt tròn | 40 L. Hải miên |
| 12 NGÀNH ĐV CHÂN ĐỐT | 27 Lớp chân lụng | 41 NGUYÊN SINH ĐỘNG VẬT |
| 13 PHÂN NGÀNH NHỆN | 28 NGÀNH GIUN ĐỐT | |
| 14 PHÂN NGÀNH CÔN TRÙNG | 29 L. trùng bánh xe |
Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự tích lũy kiến thức về động vật học, các phương pháp phân loại động vật ngày càng sâu hơn. Ngày nay, người ta không chỉ căn cứ vào hình dáng bên ngoài mà còn kết hợp phôi thai học, sinh hóa học, toán học và nhiều phương pháp khác. Các cấp nhóm động vật được sắp xếp từ nhỏ đến lớn không chỉ theo sự giống và khác nhau về bề ngoài, mà còn phản ánh lịch sử phát triển của động vật. Những loài cùng nhóm thường có quan hệ họ hàng gần. Ví dụ, tôm và cua không chỉ cùng thuộc lớp giáp xác mà còn thuộc bộ mười chân; chúng đều có 5 đôi chân bò, đôi chân thứ nhất thường biến thành dạng gọng kìm. Việc xếp tôm và cua vào cùng lớp giáp xác, bộ mười chân không chỉ vì hình dáng tương tự, mà còn vì chúng có quan hệ họ hàng gần. Các nhà khoa học phát hiện trong quá trình từ trứng phát triển thành cơ thể hoàn chỉnh, tôm và cua có một số giai đoạn ấu trùng rất giống nhau. Về sau, phần bụng của cua thoái hóa và gập vào phía dưới đầu ngực, phần yếm chính là phần bụng của cua. Điều đó chứng minh quan hệ họ hàng giữa chúng rất gần.
Giữa các nhóm động vật khác nhau, có nhóm quan hệ gần, có nhóm quan hệ xa. Chẳng hạn, tế bào biến hình trong cơ thể động vật hải miên khá nhiều, tế bào thành có nhiều chức năng; dù thuộc động vật đa bào, chúng vẫn có nhiều đặc điểm gần với sinh vật đơn bào, nên quan hệ họ hàng tương đối gần với nhóm nguyên thủy. Còn giun đất thuộc nhóm giun đốt, cơ thể có đốt; động vật chân đốt cũng có cơ thể phân đốt, vì vậy hai nhóm này có quan hệ tương đối gần. Ngược lại, những loài có đặc điểm hình thái quá khác nhau thường có quan hệ xa hơn. Dựa vào mức độ gần xa của quan hệ họ hàng, các nhà khoa học có thể sắp xếp các loài thành một “cây hệ thống”, trong đó những nhóm ở phía dưới là nguyên thủy hơn, còn những nhóm ở phía trên là động vật bậc cao hơn.
Nghiên cứu phân loại động vật có giá trị cả về lý luận lẫn thực tiễn. Quan hệ họ hàng giữa các loài cũng chính là dấu vết của quá trình biến đổi và tiến hóa. Vì vậy, sự ra đời và phát triển của thuyết tiến hóa luôn gắn liền với phân loại động vật.