Gấu trúc (gấu mèo) có thể tuyệt chủng không?

Vào đầu những năm 80 của thế kỉ XX, tại Mân Sơn ở phía tây bắc tỉnh Tứ Xuyên, nơi cư trú quan trọng của gấu trúc, đã xảy ra một hiện tượng đáng lo ngại: loài trúc mũi tên nở hoa trên diện tích rất lớn, phạm vi lên tới hơn 5000 km2. Loài trúc này khoảng 100 năm mới nở hoa một lần, nhưng sau khi nở hoa thì khô chết. Rừng trúc mới phải bắt đầu lại từ hạt giống nảy mầm và cần tới 20 - 30 năm mới có thể phục hồi hoàn toàn.
Điều không may là gấu trúc lại là loài động vật sống chủ yếu dựa vào trúc. Xét theo phân loại động vật học, gấu trúc vốn thuộc nhóm động vật ăn thịt, hệ tiêu hoá của chúng cũng không thật sự thích hợp với thức ăn là trúc. Thế nhưng trong môi trường sinh tồn đặc biệt, sau nhiều năm tìm kiếm và thích nghi, gấu trúc vẫn chọn trúc làm nguồn thức ăn chính. Đây quả là điều đáng tiếc, vì trúc có chu kì nở hoa riêng; một khi nở hoa rồi chết hàng loạt, thức ăn của gấu trúc sẽ thiếu hụt nghiêm trọng. Hơn nữa, dạ dày của chúng không thể tiêu hoá và hấp thu trọn vẹn dinh dưỡng từ trúc, khiến loài động vật hiền lành này hầu như phải dành toàn bộ thời gian hoạt động mỗi ngày để hái lá trúc ăn mới đủ duy trì sự sinh trưởng và phát triển.
Có người có thể thắc mắc: nếu trúc nở hoa là quy luật tự nhiên, vậy sau quãng thời gian dài tồn tại, gấu trúc đáng lẽ phải thích ứng được với những giai đoạn khan hiếm lá trúc; nếu không, chúng đã biến mất từ lâu. Nhận xét ấy có phần hợp lí. Tuy nhiên, thế giới mà gấu trúc ngày nay phải đối mặt đã khác xa so với tổ tiên của chúng. Thay đổi lớn nhất là dân số loài người tăng mạnh, khiến con người mở rộng hoạt động vào khu vực sinh tồn của gấu trúc. Trước kia, chúng có thể tự do đi lại trong một vùng rộng lớn để tìm trúc, còn nay chỉ còn co cụm trong những không gian nhỏ hẹp. Khi trúc trong nơi cư trú nở hoa, chúng thậm chí không còn cơ hội di chuyển đi nơi khác kiếm ăn. Việc con người khai phá đất đai với quy mô lớn đã chia cắt môi trường sống của chúng thành những “hòn đảo” riêng lẻ. Dù ở xa có rừng trúc phong phú, gấu trúc cũng chỉ có thể nhìn mà không tới được, và số phận của chúng vì thế trở nên đáng lo ngại.
Về sinh sản, gấu trúc cũng gặp hai trở ngại lớn: tỉ lệ sinh sản thấp và tiêu chuẩn chọn bạn đời rất khắt khe. Khi đến mùa sinh sản, gấu trúc đực và cái vốn đã khó gặp nhau, mà nếu gặp cũng không dễ kết đôi một cách qua loa. Chúng phải thật sự “vừa mắt” nhau mới có thể trở thành bạn đời, vì vậy việc phát triển quần thể càng thêm khó khăn.
Nếu tình trạng này kéo dài, một ngày nào đó gấu trúc có thể đứng trước nguy cơ tuyệt chủng hoàn toàn. Trước thực tế nghiêm trọng ấy, Chính phủ Trung Quốc cùng nhiều tổ chức nghiên cứu khoa học và tổ chức bảo vệ thiên nhiên trong và ngoài nước đã thực hiện nhiều công việc quan trọng. Không chỉ trả lại đất đai cho gấu trúc, họ còn thiết kế và xây dựng các “hành lang gấu trúc” giữa những khu cư trú bị chia cắt, giúp chúng có thể di chuyển tự do khi thiếu thức ăn, đồng thời tạo thêm cơ hội gặp gỡ và lựa chọn bạn đời trong mùa sinh sản. Có thể tin rằng, khi môi trường sống ngày càng rộng rãi hơn, quần thể gấu trúc sẽ có điều kiện phát triển mạnh hơn.
Công tác nghiên cứu sinh sản nhân tạo gấu trúc ở Trung Quốc cũng đã kéo dài gần 30 năm và đạt được những bước đột phá vào cuối thập kỉ 80 đến thập kỉ 90. Gần đây, Viện Khoa học Trung Quốc còn xem nhân bản gấu trúc là một hướng nghiên cứu quan trọng trong tương lai. Khi kĩ thuật nhân bản ngày càng hoàn thiện, con người sẽ bớt lo lắng hơn trước nguy cơ tuyệt chủng của giống loài này. Những chú gấu trúc đáng yêu rốt cuộc vẫn có thể tiếp tục tồn tại cùng thế giới.