Nhặt được của rơi trả người đánh mất

Vào năm Gia Tĩnh triều Minh (1521–1567), ở huyện Ngô Giang, tỉnh Giang Tô, Trung Quốc, có một người tên Thi Phục, sống bằng nghề nuôi tằm và dệt lụa.
Một hôm trên đường về nhà, Thi Phục nhặt được một gói bạc nhỏ giữa đường. Ông nghĩ: “Số bạc này tuy không nhiều, nhưng nếu là của một người buôn bán ít vốn đánh rơi, cả nhà họ có thể mất nguồn sống, thậm chí tan cửa nát nhà”. Nghĩ vậy, ông quyết định đứng ngay tại chỗ nhặt được bạc để chờ người mất quay lại.
Ông nhịn đói, nhịn khát suốt nửa ngày, cuối cùng mới thấy một vị thư sinh hớt hải chạy tới. Sau khi hỏi rõ đầu đuôi, Thi Phục đưa gói bạc trả lại. Vị thư sinh vô cùng cảm kích, muốn lấy một nửa số bạc tạ ơn, nhưng Thi Phục kiên quyết không nhận. Người ấy lại mua trái cây, tha thiết mời ông dùng bữa, ông cũng từ chối rồi lặng lẽ rời đi, không để lại tên tuổi.
Về đến nhà, Thi Phục kể chuyện cho vợ nghe. Bà hoàn toàn đồng tình với cách làm của chồng và nói: “Ông làm như vậy thật tốt!”
Hai vợ chồng không vui vì nhặt được bạc, mà chỉ thấy an lòng khi đã trả lại cho người mất. Từ đó về sau, năm nào Thi Phục nuôi tằm cũng thu được lãi lớn.
Có một năm, đến mùa nuôi tằm, Thi Phục không tìm được nơi mua lá dâu nên rất lo lắng. Ông góp vốn cùng mười nhà khác đi thuyền qua sông để tìm mua.
Khi ra đến bến sông thì trời đã tối. Họ neo thuyền ở một nhánh sông, chuẩn bị cơm nước, định sáng hôm sau khởi hành.
Trong lúc lên bờ tìm củi đun, Thi Phục tình cờ gặp lại vị thư sinh năm xưa từng đánh rơi bạc. Hai người trò chuyện hồi lâu, cảm thấy rất tâm đầu ý hợp.
Thi Phục nói:
– Vì thiếu lá dâu tằm, ta phải qua núi Động Đình tìm mua.
Người thư sinh tên Chu Ân đáp:
– Trong vườn nhà đệ có trồng dâu. Đến giờ không chỉ đủ dùng cho gia đình mà còn dư rất nhiều, vừa hay đủ cho huynh. Những lá dâu này cứ như mọc ra để chờ huynh vậy, chẳng lẽ là sự an bài?
Thi Phục cười:
– Như hôm nay chúng ta gặp lại nhau, cũng là an bài.
Sau đó, Chu Ân đưa Thi Phục về nhà mình. Vợ Chu Ân biết ân nhân đến liền ra vườn bắt gà, chuẩn bị cơm canh khoản đãi. Thi Phục vội ngăn lại:
– Cơm nước như vậy tôi đã rất cảm tạ rồi, hà tất phải sát sinh!
Vợ chồng Chu Ân nghe vậy càng khen Thi Phục có tấm lòng rộng lớn, bao dung cả với loài vật, nên không bắt gà nữa. Sau đó, ba người dọn cơm ra giữa sân, vừa ăn vừa trò chuyện đến tận khuya.
Vì nhà nhỏ, chỉ có một chiếc giường, Chu Ân hạ một cánh cửa xuống, kê lên hai chiếc ghế dài làm thành chiếc sập để Thi Phục nghỉ.
Nửa đêm, khi Thi Phục đang thiu thiu ngủ, con gà bỗng gáy ầm ĩ. Nghe tiếng, ông vội trở dậy ra ngoài xem. Vừa rời khỏi chiếc sập được ba bước, một tiếng động long trời lở đất vang lên. Quay lại, Thi Phục thấy cánh cửa đã vỡ nát, trên đó có một vật lớn đè xuống.
Chu Ân nghe tiếng chạy sang, nhìn cảnh đổ nát mà thất kinh:
– Cái trục gác trên xà không biết sao lại rơi xuống. Có lẽ nào ban ngày huynh xin tha mạng cho con gà, nên đêm nay nó gáy để đền ơn cứu mạng?
Sáng hôm sau, Chu Ân thuê thuyền chở lá dâu về nhà Thi Phục. Người nhà thấy Thi Phục thì mừng rỡ báo rằng con thuyền chở nhóm người qua sông mua lá dâu đã gặp sóng lớn và bị chìm, cả mười người đều gặp nạn, chỉ một người sống sót. May mà ông không có mặt trên thuyền.
Thoát chết hai lần trong gang tấc, Thi Phục cảm thấy mọi việc thật kỳ lạ. Ông quay sang nói với Chu Ân:
– Nếu không gặp hiền đệ và ở lại, giờ này chắc ta cũng đã gặp nạn.
Chu Ân đáp:
– Đây đều là phúc báo cho sự lương thiện ngày thường của đại ca, đâu có liên quan gì đến đệ!
Từ đó, vợ chồng Thi Phục càng vui vẻ hành thiện hơn. Hễ việc tốt nào trong khả năng, họ đều dốc lòng làm. Về sau, con cháu đầy nhà, lại ngoan hiền hiếu thuận. Chưa đầy mười năm, gia đình đã gây dựng được cơ nghiệp trị giá nghìn vàng, trở thành nhà giàu có nhất vùng.