Vì sao Trái Đất lại có nhiều nham thạch đến thế?

Trên Trái Đất, đá có mặt ở khắp nơi. Có vùng bề mặt là bùn cát, nhưng phía dưới vẫn là đá. Có những sông, biển mà dưới tầng nước cũng là đá. Đá là lớp vỏ đất chắc cứng nhất, bao bọc bên ngoài vỏ Trái Đất; người ta gọi đó là vòng nham thạch. Vòng nham thạch nơi dày nhất hơn 100 km. Nói cách khác, không chỉ vỏ Trái Đất được cấu tạo từ nham thạch, mà phần trên của lớp cùi cũng do nham thạch tạo thành.
Vì sao trên Trái Đất lại có nhiều nham thạch đến vậy?
Nhà bác vật học Linnai nổi tiếng của Thụy Điển từng nói: “Nham thạch không phải từ xưa đã có mà là con đẻ của thời gian”. Đúng như vậy, tất cả nham thạch đều hình thành dần dần trong quá trình Trái Đất biến đổi. Căn cứ vào tác dụng hình thành khác nhau, nham thạch có thể chia thành ba loại lớn: đá hỏa thành, hay đá lửa; đá trầm tích; và đá biến chất.
Đá hỏa thành là thành phần chủ yếu của vòng nham thạch Trái Đất. Toàn bộ phần trên của lớp cùi và khoảng 3/4 nham thạch trong vỏ Trái Đất đều là đá hỏa thành. Loại đá này được hình thành khi nham tương nóng chảy nguội dần và đông lại. Nếu nham tương do núi lửa phun ra rồi ngưng kết, nó cũng tạo thành đá hỏa thành. Ví dụ như đá Huyền Vũ, đá An Sơn… Ngày nay, ở những vùng núi lửa còn hoạt động, ta vẫn có thể quan sát quá trình hình thành đá hỏa thành. Có một số vùng từng bị đá hỏa thành che phủ hàng vạn km2, độ dày hàng nghìn mét, nhưng tỷ lệ ấy vẫn còn có hạn. Nhiều hơn là những khối nham tương chưa phun ra khỏi mặt đất mà đã ngưng kết ở tầng sâu. Đó cũng là đá hỏa thành, phân bố rộng rãi dưới dạng đá hoa cương, đá cuội…
Nham thạch được hình thành sớm nhất, bao gồm đá hỏa thành, đá trầm tích và đá biến chất. Sau khi lộ ra trên mặt đất, nham thạch bị phong hóa và xâm thực phá hoại, dần chuyển thành bùn cát cùng các chất phân giải hóa học khác. Những vật chất này được gió, nước và sông băng vận chuyển, cuối cùng trầm tích dưới đáy hồ hoặc các vùng trũng. Qua thời gian dài ngưng kết, lại chịu ảnh hưởng của sức nóng trong lòng đất, chúng kết lại thành lớp nham thạch mới; đó chính là đá trầm tích. Ví dụ, sỏi đá do các hạt cát kết dính mà thành, hoặc phiến đá được tạo từ bùn ngưng kết. Trong quá trình hình thành đá trầm tích thường có sự tham gia của sinh vật, vì vậy trong đá trầm tích người ta có thể tìm thấy hóa thạch hoặc dấu vết di thể sinh vật cổ. Trong quá trình diễn biến của Trái Đất, nham thạch chịu sức ép mạnh, chịu ảnh hưởng của nhiệt độ cao hoặc được bổ sung vật chất từ bên ngoài, từ đó biến đổi một phần hình dạng và tính chất, hình thành một loại nham thạch mới gọi là đá biến chất. Ví dụ, đá hoa cương biến thành đá phiến, một số nham thạch và đá phiến biến thành đá tấm.
Tóm lại, các loại nham thạch trên Trái Đất đều được hình thành dần dần thông qua ba con đường trên.