Vì sao miền Nam Trung Quốc nhiều mỏ kim loại màu còn miền Bắc nhiều mỏ năng lượng?

Tài nguyên khoáng sản của Trung Quốc rất phong phú. Hầu như những loại quặng đã được phát hiện trên thế giới đều có mặt ở Trung Quốc, nhưng sự phân bố của chúng lại rất không đồng đều. Chẳng hạn, mỏ kim loại màu của Trung Quốc phần lớn nằm ở phía nam, còn các mỏ năng lượng như than đá và dầu mỏ lại tập trung nhiều ở phía bắc. Vì vậy, trong thời gian dài đã tồn tại tình trạng than đá phải vận chuyển từ phương Bắc xuống phương Nam, còn các xí nghiệp công nghiệp nặng ở phía bắc lại phải đưa nguyên liệu kim loại màu từ phương Nam lên. Muốn hiểu sự mất cân bằng này, cần xét từ đặc điểm hình thành khác nhau của các loại khoáng vật.
Khoáng sản có thể chia thành hai loại lớn: khoáng sản kim loại và khoáng sản phi kim loại. Trong khoáng sản kim loại lại có kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý, kim loại hiếm, các nguyên tố phân tán và các nguyên tố phóng xạ. Xét theo nguyên nhân hình thành, khoáng sản kim loại nói chung có liên quan đến hoạt động nham tương dưới đất. Khi nham tương phun lên, áp suất giảm, nhiệt độ hạ xuống; các khoáng vật trong nham tương do có điểm nóng chảy, tỉ trọng và các tính chất vật lý khác nhau nên lần lượt kết tinh, tập trung và tạo thành vỉa quặng ở những độ sâu khác nhau. Tất nhiên, dưới ảnh hưởng của ngoại lực như sự nâng lên của vỏ Trái Đất, phong hóa và xâm thực, một phần khoáng sản cũng bị vận chuyển đến khu vực lân cận, tạo thành các khoáng sản ngoại sinh.
Ở Trung Quốc có ba đới cấu tạo lớn theo hướng đông - tây. Nhiều lần vận động tạo núi đã khiến nham tương hoạt động qua nhiều thời kỳ và tạo ra nhiều quá trình thành quặng. Vì thế, phạm vi phân bố quặng kim loại ở Trung Quốc khá rộng. Tuy nhiên, so với đới cấu tạo Nam Lĩnh, các đới cấu tạo Âm Sơn - Thiên Sơn và Tần Lĩnh - Côn Sơn có mức độ vận động tạo núi mãnh liệt và dồn dập hơn nhiều. Đới cấu tạo Nam Lĩnh hình thành trong thời kỳ vận động tạo núi Ralitung, sau đó lại chịu ảnh hưởng của các vận động tạo núi Hoalytây, Inđô, Yến Sơn và dãy Hymalaya, trong đó mạnh nhất là vận động Hoalytây và Yến Sơn. Về mặt cấu tạo, hệ thống Nam Lĩnh theo hướng vĩ độ xen kẽ với hệ cấu tạo Hoa Hạ theo hướng đông bắc - tây nam, hệ cấu tạo theo hướng kinh tuyến nam - bắc và hệ cấu tạo vòng cung Chân Tây - Tây Tạng. Xét tổng hợp ba mặt gồm thời kỳ tạo mỏ, cấu tạo và tính chất đất đá, đặc biệt trong thời kỳ Yến Sơn và đại Tân sinh, Trung Quốc vẫn là một trong những nước hình thành mỏ kim loại màu quan trọng nhất thế giới. Cấu tạo càng phức tạp thì hoạt động nham tương càng mạnh; các nguyên tố kim loại màu và kim loại hiếm trong nham tương trung tính hoặc có tính axit càng dễ tập trung. Đới Nam Lĩnh có đủ ba điều kiện ấy, vì vậy miền Nam Trung Quốc có nhiều mỏ kim loại màu là điều dễ hiểu.
Mức độ hoạt động nham tương mạnh ở miền Nam Trung Quốc nhìn chung lấy bồn địa Tứ Xuyên và cao nguyên Quý Châu làm trung tâm, tạo dạng phân bố đối xứng theo hướng đông - tây quanh cao nguyên Quý Châu. Từ trung tâm ra hai bên, các đới mỏ chuyển từ loại hình thành bởi chất lỏng nhiệt độ thấp sang loại hình thành bởi chất lỏng nhiệt độ cao; ở giữa có thủy ngân, stibi, rồi quá độ sang hai bên là đồng, chì, kẽm, vonfram, molipđen… Chỉ cần xem bản đồ phân bố mỏ kim loại màu của Trung Quốc sẽ thấy rõ điều này.
Các mỏ năng lượng thuộc loại mỏ trầm tích, đa số phân bố ở những khu vực vỏ Trái Đất hoạt động không quá mạnh hoặc ở những vùng có hệ thống cấu tạo tương đối ổn định.
Ở miền Bắc Trung Quốc, phía bắc là đới cấu tạo Âm Sơn - Thiên Sơn; từ đại Trung sinh, khu vực này bắt đầu hình thành những vùng trũng tương đối ổn định, nhờ đó than đá và dầu mỏ dễ được tạo thành trong đại Trung sinh và đại Tân sinh. Vùng trũng nằm giữa đới Âm Sơn - Thiên Sơn và đới Tần Lĩnh - Côn Sơn đã trở thành lục địa từ rất lâu, hoạt động vỏ Trái Đất tương đối chậm. Từ trước kỷ Chấn đán đến đại Trung sinh và Tân sinh đều có quá trình trầm tích tạo mỏ, nên miền Bắc Trung Quốc có rất nhiều mỏ trầm tích, đặc biệt là than đá và dầu mỏ.
Nhưng có thể nói phương Nam không có than đá và dầu mỏ được không? Không thể nói như vậy. Do cấu tạo địa chất ở miền Nam phức tạp, chịu ảnh hưởng mạnh của vận động dải Yến Sơn, các nếp uốn, đứt gãy và hoạt động nham tương mãnh liệt thường làm địa tầng bị lật ngược. Các tầng than đá nhiều khi bị đá lửa và các bồn địa trầm tích đại Trung sinh, Tân sinh phủ lấp, khiến công tác thăm dò và khai thác trở nên khó khăn. Riêng về dầu mỏ, theo lý luận trầm tích thành dầu của nhà địa chất học Trung Quốc Lý Tứ Quang, miền Đông Hoa Hạ có ba đới trầm tích đều đủ điều kiện hình thành mỏ dầu. Vì vậy không phải miền Nam không có dầu, mà trong điều kiện tương tự, miền Bắc dễ khai thác hơn nên được khai thác trước.