Quy định chế độ mua hàng trả chậm định kì như thế nào?

Ở một số nước, để tăng khả năng cạnh tranh trong tiêu thụ hàng hóa, người ta đưa ra hình thức bán hàng trả chậm. Trong những năm gần đây, cùng với cải cách kinh tế và mở cửa, Trung Quốc cũng xuất hiện hình thức bán hàng trả chậm theo định kỳ.
Bán hàng trả chậm thực chất là một hình thức mua chịu hàng hóa.
Giả sử một món hàng có giá 1.000 đồng. Nếu mua trả chậm, khách hàng nhận hàng trước và hẹn sau một thời gian, chẳng hạn một năm, mới trả tiền. Nhưng một năm sau phải trả bao nhiêu? Có thể chỉ trả 1.000 đồng không? Tất nhiên là không. Vì nếu đem 1.000 đồng gửi ngân hàng với lãi suất 5% một năm thì sau một năm số tiền sẽ thành 1.050 đồng. Nếu năm nay mua hàng trả chậm mà sang năm chỉ trả 1.000 đồng thì người mua quá có lợi, còn chủ hàng sẽ bị thiệt. Vì vậy, số tiền phải trả sau một năm ít nhất cũng phải gồm cả phần lãi tương ứng, tức khoảng 1.050 đồng.
Như vậy, 1.050 đồng của năm sau có giá trị tương đương với 1.000 đồng ở hiện tại.
Dựa vào công thức tính lãi, người ta có thể tính giá trị tương đương của một khoản tiền sau một thời gian. Nếu biết số tiền phải trả trong tương lai, ta cũng có thể tính ngược lại giá trị hiện tại của nó.
Giả sử x là số vốn hiện tại, sau một năm với lãi suất 5% sẽ thành 1.050 đồng. Khi đó x × (1 + 5%) = 1.050, suy ra x = 1.000 đồng.
Tương tự, nếu cần tính số vốn hiện tại để sau hai năm nhận được cả vốn lẫn lãi là 1.100 đồng, ta có thể lập phương trình và tính ngược theo lãi suất đã biết. Nếu lãi suất mỗi năm là p%, số tiền tương lai là b, thời gian là n năm, thì giá trị hiện tại x có thể được tính theo công thức tương ứng.
Sau khi hiểu ý nghĩa của giá trị hiện tại, ta có thể bàn đến chế độ bán hàng trả chậm. Hình thức này khác với bán chịu thông thường. Khi nhận hàng, khách hàng thường đã trả trước một phần tiền. Phần còn lại sẽ được trả theo thời hạn đã thỏa thuận rõ ràng.
Ví dụ, một món đồ điện dân dụng có giá 2.180 đồng. Cửa hàng đặt kế hoạch bán trả góp như sau: lần đầu khách trả 1.000 đồng rồi nhận hàng, sau đó mỗi tháng trả 200 đồng, trả liên tiếp 6 lần trong 6 tháng. Với lãi suất giả định 5%, mỗi khoản 200 đồng trả sau sẽ được quy đổi về giá trị hiện tại.
Khoản 200 đồng trả ở tháng thứ nhất sẽ có giá trị hiện tại hơi nhỏ hơn 200 đồng; khoản trả ở tháng thứ hai lại nhỏ hơn nữa. Cộng toàn bộ các khoản quy đổi cùng với 1.000 đồng trả trước, tổng giá trị hiện tại xấp xỉ 2.179,12 đồng, gần bằng giá bán trả ngay là 2.180 đồng.
Như vậy, khi xây dựng chế độ mua hàng trả chậm, người bán phải tính đến giá trị thời gian của tiền. Cách trả góp tưởng như chia nhỏ số tiền, nhưng về bản chất vẫn cần bảo đảm tổng giá trị hiện tại tương đương với giá bán ban đầu.