Số ảo có phải là ảo không?

Số ảo có phải là ảo không? – Kho truyện cổ tích

Hãy quay lại lai lịch của số ảo. Vào thế kỷ XVI, các nhà toán học châu Âu đang tranh luận sôi nổi về việc có nên tiến hành các phép toán với số âm hay không. Một cuộc tranh luận khác cũng bị cuốn vào dòng xoáy ấy, đó là việc khai căn bậc hai của một số âm.

Số âm có căn bậc hai hay không? Có thể tồn tại một số mà bình phương của nó là số âm hay không? Về sau, do sự phát triển của toán học, một số nhà toán học phát hiện rằng có những phương trình bậc ba có nghiệm không thể không biểu diễn dưới dạng căn bậc hai của số âm. Nếu chấp nhận căn bậc hai của số âm, vấn đề giải các phương trình có dùng căn thức hay không dùng căn thức sẽ được giải quyết. Không những thế, khi giải “phương trình bậc n có n nghiệm”, người ta thu được kết quả đầy đủ nhất. Ngoài ra, khi căn bậc hai của số âm được đưa vào phép toán, nó cũng cho các kết quả chính xác.

Năm 1545, nhà toán học Italy Cardan đưa ra một cách biểu diễn có tính thỏa hiệp: gọi căn bậc hai của số âm là số có phần ảo, với ý nghĩa rằng tuy thừa nhận chúng là số, nhưng đó không phải số thực, mà là “số ảo”, không giống như số thực vốn có thể dùng để đo đếm các đồ vật thực. Đến năm 1632, nhà toán học Pháp Descartes chính thức khiến căn bậc hai của số âm được mọi người thừa nhận với tên gọi số ảo.

Năm 1768, nhà toán học Thụy Sĩ Euler lại giải thích về số ảo: “Do số ảo không nhỏ hơn số 0, không lớn hơn số 0, cũng không bằng số 0, nên nó không tồn tại trong phạm vi các số trong thực tế; nó chỉ tồn tại trong tưởng tượng”. Đây là đại diện cho thái độ và nhận thức của các nhà toán học thế kỷ XVIII đối với căn bậc hai của số âm, đồng thời cũng phản ánh ý nghĩa chữ “ảo” trong khái niệm số ảo.

Dù thuật ngữ số ảo có chữ “ảo”, các nhà toán học không hề bỏ qua mà tiếp tục đào sâu nghiên cứu. Vào thế kỷ XVIII - XIX, họ đã phát hiện nhiều tính chất và ứng dụng của số ảo. Đặc biệt năm 1777, Euler đưa ra khái niệm “đơn vị ảo”. Ông chọn √-1 làm đơn vị ảo và dùng chữ i để biểu thị đơn vị này, giống như số 1 là đơn vị của các số thực. Nhờ đó, bất kỳ số ảo nào cũng có thể biểu diễn là bội số của đơn vị ảo, tương tự như số thực. Ví dụ:

Nhờ vậy, các nhà toán học không chỉ xem số thực và số ảo là đồng dạng với nhau, mà còn thống nhất chúng dưới tên gọi số phức. Số phức bao gồm cả số thực và số ảo. Nếu dùng ký hiệu a + bi, trong đó a và b là các số thực, i là đơn vị ảo, thì khi a = 0, a + bi = bi là số ảo; nếu b = 0, a + bi = a thì số đã cho là số thực. Số phức được hình thành do số thực và số ảo bổ sung cho nhau, không thể thiếu một phần nào.

Vào cuối thế kỷ XVIII, nhà toán học Na Uy Wilser, nhà toán học Thụy Sĩ Aliam và nhà toán học Đức Gauss đã phát minh phương pháp biểu diễn số phức bằng các điểm tương ứng một - một trên hệ trục vuông góc. Trên hệ trục tọa độ, trục hoành là trục thực, trục tung là trục ảo. Mỗi trục được chia theo đơn vị độ dài. Chỗ hai trục giao nhau được chọn làm gốc trục O. Tính từ O, trên trục thực lấy a đơn vị, trên trục ảo lấy b đơn vị. Nhờ đó, mỗi số phức a + bi đều có thể biểu diễn bằng một điểm tương ứng. Loại trục tọa độ này được gọi là hệ trục số phức, có gốc là O. Nhờ hệ trục tọa độ phức, người ta phát hiện được nhiều tính chất của số phức và chấp nhận sự tồn tại thực tế của chúng trong toán học. Từ đó, địa vị của số phức được xác lập và thuật ngữ số phức tồn tại cho đến ngày nay.

Xem thêm 10 vạn câu hỏi vì sao

Thế nào là bộ bốn (tiếng Anh: quaternion)?

Thế nào là bộ bốn (tiếng Anh: quaternion)?

Số phức a + bi có thể được xem là một cặp số thực có thứ tự (a, b), tương ứng với một điểm trên hệ tọa độ vuông góc. Từ gợi ý này, nhà toán học Ireland Hamilton đã có ý định xây...
Vì sao có lúc chúng ta chỉ cần số có giá trị gần đúng?

Vì sao có lúc chúng ta chỉ cần số có giá trị gần đúng?

Nếu có người hỏi bạn: “Năm nay bạn bao nhiêu tuổi?”, bạn trả lời: “Tôi 15 tuổi”. Câu trả lời này hoàn toàn đúng trong giao tiếp thông thường, nhưng con số 15 chỉ là con số gần đúng...
0,1 và 0,10 có giống nhau không?

0,1 và 0,10 có giống nhau không?

Khi mới học số thập phân đúng, câu hỏi trên dường như hơi thừa. Vì 0,1 = 1/10 và 0,10 = 10/100. Nếu rút gọn 10/100 thì chính là 1/10, nên có thể kết luận hai cách viết ấy hoàn toàn...
Vì sao định lý thặng dư Trung Quốc có thể dùng để mã hóa máy tính?

Vì sao định lý thặng dư Trung Quốc có thể dùng để mã hóa máy tính?

Chúng ta đã biết đến định lý thặng dư Trung Quốc, tức vấn đề Hàn Tín điểm binh. Đây là một thành tựu quan trọng trong toán học cổ Trung Quốc, có nội dung thuộc về việc giải dãy...
Làm thế nào biểu diễn một số thập phân tuần hoàn dưới dạng phân số?

Làm thế nào biểu diễn một số thập phân tuần hoàn dưới dạng phân số?

Tất cả các phân số đều có thể viết thành số thập phân hữu hạn hoặc số thập phân vô hạn tuần hoàn. Các số thập phân có hữu hạn chữ số được gọi là số thập phân hữu hạn, ví dụ phân số...
Vì sao lại nói số 9?

Vì sao lại nói số 9?

Không ít người cho rằng số 9 có dấu chấm, tức chữ số 9 được lặp đi lặp lại mãi sau dấu phẩy thập phân, dù lặp bao nhiêu lần thì cũng chỉ tiến dần đến 1 chứ không bao giờ bằng 1....
Vì sao người ta chia ra hai loại số hữu tỉ và số vô tỉ?

Vì sao người ta chia ra hai loại số hữu tỉ và số vô tỉ?

Câu hỏi này liên quan đến một câu chuyện cổ rất thú vị.Vào thế kỷ VI trước Công nguyên, nhà toán học Hy Lạp cổ đại Pythagore cho rằng trên đời chỉ có số nguyên và tỉ số giữa hai số...
Có phải số các số nguyên tố là hữu hạn?

Có phải số các số nguyên tố là hữu hạn?

Trong các số tự nhiên, 2, 3, 5, 7... chỉ có thể chia hết cho 1 và chính bản thân chúng, nên đó là các số nguyên tố. Các số 4, 6, 8, 9... ngoài 1 và chính chúng còn có thể chia hết...
0.23707 sec| 875.984 kb