Vì sao khu vực trung hạ lưu sông Trường Giang có rất nhiều ao hồ?

Khu vực trung hạ lưu sông Trường Giang có đất đai màu mỡ và nhiều ao hồ. Theo thống kê chưa hoàn chỉnh, tổng diện tích đất trũng hồ ao ở đây đạt tới hơn 20000 km2, tương đương khoảng trên dưới 10% diện tích khu vực trung hạ lưu sông Trường Giang. Tỉnh Hồ Bắc có hơn 1500 hồ, trở thành tỉnh có số lượng ao hồ nhiều nhất Trung Quốc.
Vì sao khu vực trung hạ lưu sông Trường Giang lại có rất nhiều ao hồ như vậy?
Vốn dĩ, đồng bằng trung du sông Trường Giang gắn với giai đoạn lịch sử gần đây nhất của Trái Đất, là khu vực xảy ra chuyển động hạ thấp của vỏ Trái Đất. Nơi này từng hình thành những vùng đất trũng lớn và ngày trước còn xuất hiện các hồ ao có quy mô lớn hơn bây giờ rất nhiều. Chẳng hạn, Trung Quốc cổ đại có một con sông lớn nổi tiếng tên là Vân Mộng, phân bố ở khu vực giáp giới tỉnh Hồ Bắc và tỉnh Hồ Nam. Sau này, do con sông mang lại lượng phù sa dồi dào, đáy hồ được nâng cao; một số phần lộ ra khỏi mặt nước, khiến những hồ lớn ban đầu cuối cùng bị chia cắt thành các hồ ao tương đối nhỏ.
Con sông không chỉ mang lại lượng phù sa dồi dào. Khi nước lũ tràn ngập, đất đai hai bên bờ sông cũng tích lũy được một lượng phù sa. Do độ dày mỏng của lớp phù sa lắng đọng ở từng phần không giống nhau, bề mặt trở nên không bằng phẳng. Khi nước lũ rút, những chỗ lõm còn đọng nước chưa thoát được sẽ lộ ra và tạo thành ao hồ. Trong các cơn lũ dữ thời cổ đại, không ít hồ ao được hình thành theo cách này. Nếu áp dụng nhiều biện pháp như phân lũ, trừ lũ… để khống chế và ngăn chặn lũ lụt, thì dù nước lũ có tràn khắp, tác dụng của lượng phù sa tích tụ trong ao hồ cũng không còn phát huy như trước.
Ở những vùng đồng bằng có địa thế thấp, sự xói mòn của nước sông đã làm phá hỏng bờ sông. Do các đồng bằng này mới được bồi đắp bởi phù sa, đất ở đó tơi xốp nên sự tàn phá diễn ra khá nhanh. Một số bộ phận ở hai bên bờ sông bị tàn phá mà lõm vào. Nhưng ở một số bộ phận khác, bao gồm nhiều bờ đối diện với bờ bị lõm, do tốc độ dòng nước gần đó tương đối chậm, phù sa trong nước tích tụ lại khiến bờ sông nhô ra. Đường sông vì vậy ngày càng ngoằn ngoèo. Chẳng hạn, sông Trường Giang ở khu vực giáp giới tỉnh Hồ Bắc và tỉnh Hồ Nam có những chỗ cong gần như hai bên bờ chạm vào nhau; từ miệng hồ sen đến Thành Linh Cơ, khoảng cách theo đường thẳng chỉ 87 km, nhưng chiều dài thực tế là 240 km. Trong trường hợp này, có lúc dòng nước uốn cong tạo thành đường sông mới; nước không còn chảy vào đoạn sông vốn bị uốn cong, và đoạn ấy trở thành hồ hình cung. Vùng trung du sông Trường Giang có một đoạn gọi là sông Kinh Giang; trong khoảng từ năm 1884 đến năm 1947, nơi đây đã ba lần diễn ra hiện tượng uốn thẳng đường sông. Từ năm 1952 đến năm 1953, công trình phân lũ Kinh Giang được xây dựng nhằm giảm thiểu thiệt hại do nước lũ gây ra.
Ở khu vực hạ lưu sông Trường Giang, nguyên nhân chính hình thành ao hồ cũng là lượng phù sa màu mỡ do các dòng sông mang lại. Tuy nhiên, vai trò của lớp phù sa này đã phát huy trong các biển lớn thời cổ đại. Những hồ nổi tiếng như Tây Hồ, Thái Hồ vốn là một bộ phận của biển; sau này, do lớp phù sa tích tụ ven biển hình thành vùng đất bồi Sa Bá, chúng dần bị cắt đứt với biển. Vùng đất bồi Sa Bá ngày càng tích tụ nhiều hơn, trở thành đại lục rộng lớn, còn những khu vực ấy biến thành hồ nước ngọt. Vai trò lấp biển vẫn tiếp diễn đến ngày nay, nhưng sự hình thành của các loại ao hồ này không thể quan sát được trong một thời gian ngắn.